Chuyển đến nội dung chính

Phương cách biến khó khăn thành cơ hội

PHẦN 1 - PHÁT TRIỂN TRONG GIAI ĐOẠN KHÓ KHĂN
Chương 1: Quan niệm mới về thành công
“Ẩn sâu bên trong mỗi con người là những quyền năng chưa được khai phá; đó là những quyền năng sẽ khiến bản thân họ ngạc nhiên và chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ có được; nhưng đó là những sức mạnh mà nếu được đánh thức và biến thành hành động thì sẽ có thể thay đổi cả cuộc đời họ” - Orison Marden
Vượt dốc - định nghĩa lại khái niệm thành công
Cuộc đời cũng giống như hành trình leo núi, bạn chỉ có thể thực hiện được bằng cách nỗ lực không ngừng để leo lên, thậm chí đôi khi phải bằng từng bước tiến chậm chạp, đau đớn nối tiếp nhau.
Do đó, ta có thể định nghĩa thành công chính là mức độ mà con người có thể tiến về phía trước và lên cao, phát triển trong sứ mệnh cả cuộc đời mình, vượt qua tất cả những trở ngại hay các kiểu nghịch cảnh.
Câu hỏi cơ bản về tính hiệu quả của con người
Tại sao một số người thì kiên trì, trong khi số khác chỉ đi được một chặng đường ngắn hoặc thậm chí bỏ cuộc?
Tại sao một số tổ chức phát đạt trong thời buổi cạnh tranh còn số khác lại phải thất bại?
Tại sao một doanh nghiệp có thể chống chọi được với những hoàn cảnh vô cùng khó khăn trong khi những doanh nghiệp khác bỏ cuộc?
Trên cơ sở các nghiên cứu khoa học, cuốn sách này sẽ trả lời câu hỏi cơ bản nhất về tính hiệu quả của con người và tổ chức.
AQ - Chỉ số vượt khó là gì?
Chỉ số vượt khó (Adversity Quotient - AQ) bao gồm hai cấu phần cần thiết của bất kỳ khái niệm thực tiễn nào - lý luận khoa học và ứng dụng thực tế.
Thành công của bạn trong công việc cũng như cuộc sống chủ yếu là do Chỉ số vượt khó (AQ) của bạn quyết định. AQ cho biết mức độ chịu đựng và khả năng vượt khó của bạn, dự báo ai sẽ vượt qua nghịch cảnh và ai sẽ đầu hàng; ai sẽ vượt trên cả mong đợi về hiệu quả hoạt động và tiềm năng của mình, còn ai không thể; ai sẽ từ bỏ và ai sẽ chiến thắng.
AQ có ba dạng thức:
Thứ nhất, AQ là một khái niệm mới để thấu hiểu và thúc đẩy tất cả các khía cạnh của thành công.
Thứ hai, AQ là thước đo cách thức phản ứng của bạn đối với nghịch cảnh.
Cuối cùng, AQ là một bộ công cụ có cơ sở khoa học vững chắc giúp nâng cao khả năng phản ứng với nghịch cảnh của bạn.
AQ bắt đầu từ cá nhân song những lý luận, thước đo, và công cụ của nó có thể dùng để nâng cao hiệu quả của: Nhóm các mối quan hệ, gia đình, tổ chức, cộng đồng, văn hóa, xã hội.
AQ cung cấp cho bạn những thông tin, công cụ và chiến lược cần thiết để đánh giá và tăng cường năng lực này cho đội ngũ của bạn.
AQ sẽ cung cấp cho bạn một lý luận mới để giúp bạn nâng cao tinh thần trách nhiệm và tự chịu trách nhiệm.
Yếu tố dự đoán thành công tổng thể: So sánh AQ với IQ và EQ.
Trước đây, IQ hay Chỉ số thông minh đã được các bậc phụ huynh, giáo viên, và người sử dụng lao động coi là yếu tố dự đoán thành công chính xác. Trong cuốn sách Trí thông minh cảm xúc, Daniel Goleman đã giải thích sâu sắc lý do tại sao một số người có IQ cao lại không tiến xa trong khi nhiều người chỉ có IQ trung bình lại phát triển lớn mạnh rực rỡ. Ông chứng minh rằng bên cạnh IQ, mỗi chúng ta còn cần có EQ, hay Chỉ số cảm xúc.
Tuy nhiên, cũng như IQ, không phải ai cũng có thể sử dụng đầy đủ EQ của mình, không phát huy hết tiềm năng mặc dù họ có những kỹ năng quý giá. Bởi trí thông minh cảm xúc vẫn còn thiếu một thước đo đúng đắn và một phương pháp rõ ràng để mọi người có thể học theo, vì vậy đến nay nó vẫn rất khó nắm bắt.
Ngọn núi - con đường đi đến thành công
Mọi người đều có động lực cốt lõi là Tiến lên, vậy tại sao chúng ta lại không thấy đỉnh núi chật ních và chân núi vắng người? Tại sao thực tế lại là điều ngược lại?
Chúng ta cần xem những gì xảy ra với ba nhóm người mà chúng ta bắt gặp trên hành trình leo núi:
Người Bỏ cuộc: phớt lờ, ngụy tạo, hoặc từ bỏ động lực cốt lõi của con người là tiến lên.
Người Cắm trại: chỉ đi đến một mức độ nhất định mặc dù họ có thể thành công khi đến được vùng đất cắm trại, nhưng họ không thể duy trì thành công nếu không tiếp tục tiến lên.
Người Leo núi: là những người trung thành với hành trình đi lên suốt đời.
Cách sống của người Bỏ cuộc, người Cắm trại, và người Leo núi
Người Bỏ cuộc thường có cuộc sống thỏa hiệp. Họ từ bỏ ước mơ và lựa chọn những gì mà họ cho là con đường bằng phẳng, dễ dàng hơn nên họ thường cảm thấy cay đắng, phiền muộn, và tê liệt về cảm xúc.
Không khó để đoán được rằng người Bỏ cuộc rất khéo sử dụng ngôn ngữ tiêu cực. Họ nhanh chóng tìm ra những lý do giải thích tại sao mọi việc không thể giải quyết được.
Người Bỏ cuộc có ít hoặc không có khả năng đương đầu với khó khăn.
Người Cắm trại cũng có cuộc sống thỏa hiệp, chỉ khác ở mức độ thỏa hiệp. Họ thường cảm thấy khá hài lòng về sự cân bằng rõ ràng giữa việc hy sinh những gì có thể đạt được với việc bám lấy cái ảo tưởng là sẽ giữ được những gì đang có. Họ thường cảm thấy đúng đắn khi ngừng leo núi để thưởng thức thành quả lao động của mình.
Sự thỏa hiệp bén rễ trong ngôn ngữ của người Cắm trại. Họ luôn tìm ra những lời giải thích rất hợp lý về nguyên nhân tại sao chuyến hành trình leo núi không như những gì người ta thường ca ngợi.
Người Cắm trại hành động dựa trên niềm tin rằng sau một số năm hoặc một số nỗ lực nhất định, thì cuộc đời sẽ hầu như không còn khó khăn nữa.
Chỉ có người Leo núi là có một cuộc sống thực sự. Họ ý thức được sâu sắc về mục đích của mình và dành đam mê cho những việc mình làm. Dù biết rằng leo lên đến đỉnh là một điều khó thực hiện, nhưng người Leo núi không bao giờ quên đó mới chính là mục đích chuyến đi của mình.
Ngôn ngữ của người Leo núi luôn chứa đựng những điều có thể tràn đầy tiềm năng. Người Leo núi nói về những gì có thể làm được và làm như thế nào. Họ nói về hành động, và thiếu kiên nhẫn với những lời nói không ủng hộ hành động đi đôi với việc làm.
Đối với người Leo núi, khó khăn không phải là điều gì xa lạ. Họ luôn phải đối mặt và vượt qua vô vàn nghịch cảnh.
Tình thế khó xử của nghịch cảnh
Tôi gọi ảnh hưởng lớn nhất đối với con người khi phải đối mặt với những khó khăn lớn hơn là tác động trái chiều của tình thế khó xử của nghịch cảnh.
Đối với sự sống và khả năng tồn tại trong tương lai của giống loài chúng ta, có lẽ không có mối đe dọa nào lớn hơn là bệnh dịch bỏ cuộc và mất niềm tin do khó khăn ngày càng tăng gây ra.
Có thể thấy rằng AQ là biến số quyết định liệu một người có giữ được hy vọng và tự chủ trong những thời điểm khó khăn hay không.
Cây thành công
Lá cây được gọi là cách biểu hiện, nói đến những gì thuộc về chúng ta mà người khác dễ nhìn thấy nhất.
Cành là tài năng và khát khao. Cành cây đầu tiên tôi gọi là “yếu tố lý lịch”. Lý lịch miêu tả kỹ năng, khả năng, kinh nghiệm, kiến thức - tức là những gì bạn biết và có thể làm.
Thân cây là trí thông minh, sức khỏe, tính cách. Rõ ràng là trí thông minh có tác động đến thành công của bạn. Sức khỏe thể chất và tinh thần của bạn cũng sẽ ảnh hưởng đến khả năng thành công của bạn. Tính cách chú ý đến sự công bằng, công lý, trung thực, khôn ngoan, lòng tốt, dũng cảm, và bao dung.
Rễ cây là di truyền, cách nuôi dạy, và niềm tin. Tất cả sẽ không thể phát triển nếu không có yếu tố rễ. Di truyền ảnh hưởng đến hành vi của chúng ta nhiều hơn là mức chúng ta muốn thừa nhận. Cách bạn được dạy dỗ có thể ảnh hưởng đến trí thông minh, sự hình thành những thói quen lành mạnh, phát triển nhân cách, cũng như kỹ năng, khát khao và kết quả làm việc, phong cách biểu hiện có được từ những điều đó. Niềm tin là một nhân tố hấp dẫn và cần thiết đối với hy vọng, hành động, đạo đức, đóng góp, và cách chúng ta đối xử với đồng loại.
Chỉ số vượt khó
Ngay cả khi có tất cả những yếu tố này, thì vẫn không có gì đảm bảo rằng một người, hay một cái cây, sẽ đứng vững khi phải đối mặt với những cơn gió nghịch cảnh. Nếu cây đó được trồng trên cát, thì nó sẽ bị quật đổ. Nếu nó mọc lên từ đá và được nuôi dưỡng với khả năng đàn hồi cao, thì nó sẽ cong xuống, nhưng không bao giờ đổ.
AQ của bạn quyết định liệu bạn sẽ đứng vững vàng và chắc chắn, tiếp tục phát triển ngay cả khi phải đối mặt với khó khăn, hay bạn sẽ bị tê liệt hoặc thất bại, bất kể bạn có tất cả những nhân tố trên hay không.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

40 NGUYÊN TẮC - THỦ THUẬT SÁNG TẠO TRIZ

40 NGUYÊN TẮC - THỦ THUẬT SÁNG TẠO
Sáng tạo là hoạt động tạo ra bất kì cái gì mới và cái mới đó đem lại ích lợi.
Ví dụ:
Học sinh tự tìm ra cách giải mới có thể giải được bài tập một cách nhanh chóng và hiệu quả.Người bán hàng sử dụng cách tiếp thị mới thu hút khách hàng, bán được nhiều sản phẩm hơn.Acsimet tìm ra lực đẩy của nước (lực đẩy Acsimet) xác định người thợ kim hoàn gian lận vàng của vua.Thần đèn Nguyễn Cẩm Lũy tìm ra cách dời những ngôi nhà với kích thước rất lớn từ nơi này đến nơi khác.
Thủ thuật là thao tác tư duy đơn lẻ kiểu: hãy đặc biệt hoá bài toán, hãy phân nhỏ đối tượng, hãy làm ngược lại... 
1. Nguyên tắc phân nhỏ
a) Chia đối tượng thành các phần độc lập.
-Để di chuyển 100 cái ghế ra khỏi phòng, đòi hỏi phải khiêng từng cái.
b) Làm đối tượng trở nên tháo lắp được.
- Máy vi tính gồm có các thành phần như thùng máy, màn hình, ram, ổ cứng, ổ dvd ...có thể tháo lắp được.
Khi máy tính bị sự cố, chỉ cần xác định bộ phận nào bị hư, và thay thế bộ phận đó, không cần phải thay toàn b…

50 câu hỏi cho phương pháp SCAMPER

SCAMPER là phương pháp khá nổi tiếng và phổ biến tại nhiều nước
Kỹ thuật dựa trên lý thuyết rằng mọi phát minh mới hoặc đổi mới, theo một cách nào đó, hình dạng, hình thức hoặc chức năng, một sự thích ứng của một cái gì đó đã tồn tại hoặc đã tồn tại.
Từ SCAMPER là một từ viết tắt phục vụ như một danh sách kiểm tra đổi mới. Mỗi chữ cái viết tắt gợi ý một cách khác nhau nhóm có thể gắn với các đặc điểm của một sản phẩm, dịch vụ hoặc quy trình để kích thích những ý tưởng hoàn toàn mới:
S = Thay thế một cái gì đó
C = Kết hợp nó với một cái gì đó khác
A = Thích ứng một cái gì đó (một ý tưởng khác, một phần,   quá trình, v.v.)
M = Sửa đổi, phóng to hoặc thu nhỏ
P = Đưa vào sử dụng khác
E = Loại bỏ (hoặc đơn giản hóa) một cái gì đó
R = Sắp xếp lại (hoặc đảo ngược)

Alex Osborn ban đầu đã phát triển một danh sách "Câu hỏi thúc đẩy ý tưởng" của mọi người là cơ sở
của kỹ thuật. Họ sau đó đã được sắp xếp và được phát triển thêm bởi tác giả Bob Eberle.

Cách thức hoạt động của SCAMPER:
1…

Một số ví dụ về POKA YOKE

Poka Yoke là gì?
Poka Yoke, nghĩa là chống lỗi theo tiếng Nhật, ngăn ngừa những sai lầm có thể tránh được xảy ra. Điều này áp dụng cho bất kỳ môi trường nào, có thể là trong sản xuất, bệnh viện hoặc thậm chí trong nhà. Mục đích của việc chống lỗi là để loại bỏ nhu cầu mọi người nghĩ về các sản phẩm hoặc quy trình họ đang sử dụng. Điều này là do các sản phẩm có thiết kế khiến cho không thể sử dụng chúng sai cách. Khi ai đó sử dụng sản phẩm sai cách, nó không hoạt động và người dùng thấy rằng họ đang làm sai. Các tính năng thiết kế đơn giản nhưng hiệu quả làm cho các lỗi khó xảy ra trong quá trình sử dụng sản phẩm.
Nguồn gốc và ứng dụng
Khái niệm được phát triển từ nhu cầu đạt được chất lượng trong các quy trình sản xuất. Đó là Shigeo Shingo, một trong những người tiên phong của Hệ thống sản xuất Toyota, người đã đề xuất khái niệm này. Ông là một bậc thầy chất lượng, người đã đề xuất ý tưởng ‘Zero Defects, là một mô hình chất lượng. Suy nghĩ là một quá trình sẽ có thể phát hiện và ngăn ngừa l…